Nhà văn Huỳnh Gia Linh: “Lòng yêu nước ban đầu là lòng yêu những vật tầm thường nhất”

Chia sẻ với phóng viên báo Tuổi trẻ về chương trình Talkshow “S! Việt Nam”, nhà văn trẻ Huỳnh Gia Linh đã nói về cảm xúc mà chương trình đem lại: “Lòng yêu nước ban đầu là lòng yêu những vật tầm thường nhất.”

Background.png

Ngày 11/11/2016 vừa qua, chương trình Talkshow “S! Việt Nam” với chủ đề “Những dòng sông – Hành trình từ trang văn đến hiện thực” đã diễn ra với sự tham gia của các khách mời là những nhà văn trẻ và các hướng dẫn viên du lịch.

Khách mời tham gia chương trình gồm có nhà văn trẻ Huỳnh Gia Linh, nhà văn mạng Nguyễn Đức Tuấn, hướng dẫn viên du lịch Đặng Tường Vy và Nguyễn Thị Sơn Tuyền.

Thông qua chủ đề của chương trình, các khách mời đã đưa khán giả đến với những vùng đất khác nhau, với những nét văn hóa, sinh hoạt khác nhau theo dòng chảy của những con sông. Bàn luận về hình ảnh của những dòng sông từ trong trang văn đến hiện thực, từ trong hiện thực đi vào văn thơ, các vị khách mời đã trao đổi rất sôi nổi, hào hứng.

1452834858-du-lich-mien-tay-mua-nuoc-noi

Khi được hỏi về cảm nghĩ sau khi tham gia chương trình, những điều muốn gửi gắm đến khán giả xem đài, nhà văn trẻ Huỳnh Gia Linh đã trả lời: ““Lòng yêu nước ban đầu là lòng yêu những vật tầm thường nhất: yêu cái cây trồng ở trước nhà, yêu cái phố nhỏ đổ ra bờ sông, yêu vị thơm chua mát của trái lê mùa thu hay mùi cỏ thảo nguyên có hơi rượu mạnh.” Nhà văn Ilia Erenbua đã nói như vậy đấy. Chúng ta từ yêu những điều thân thuộc gần gũi, yêu những con sông, yêu cảnh sắc tươi đẹp mà cảm thấy yêu đất nước hơn. Hi vọng đài truyền hình sẽ có thêm nhiều Talk show đầy bổ ích như vậy, không chỉ về chủ đề “những con sông” mà còn những chủ đề khác góp phần làm đa dạng và phong phú hơn cho nền văn hóa cũng như nền văn chương nước ta và khiến cho người xem nói chung, cũng như thế hệ trẻ nói riêng càng thêm yêu quê hương đất nước.”

Trong khi đó, nhà văn mạng Nguyễn Đức Tuấn cho rằng: “Đây là một chương trình rất hữu ích, nó tôn vinh vẻ đẹp văn chương đồng thời còn làm cho vẻ đẹp đất nước thêm phần ấn tượng độc đáo và truyền vào lòng công chúng nhiều hơn.”

Chương trình đã cung cấp cho khán giả nguồn tri thức bổ ích và lí thú, khơi gợi tình yêu thiên nhiên, yêu quê hương đất nước nơi khán giả xem đài, Đồng thời chương trình cũng nhận được nhiều phản hồi tích cực từ phía khán giả. Trong số phát sóng tiếp theo, chương trình Talkshow sẽ cùng các vị khách mời bàn luận về chủ đề “Biển đảo quê hương”. Mời quý vị chú ý đón xem!

Sông Tiền – dòng sông quê hương

song_tien-1

“Quá nửa đời phiêu bạt, con lại về úp mặt vào sông quê.
Ơi! Con sông dạt dào như lòng mẹ chở che con đi qua chớp bể mưa nguồn…”

(Khúc hát sông quê)

Có thể ví rằng những ngọn núi gồ ghề, cao lớn như vóc dáng người cha thì những dòng sông êm đềm, dịu dàng và dạt dào như tấm lòng người mẹ.  Tôi lớn lên từ lời ru chan chứa yêu thương của mẹ. Tôi trưởng thành với bản tính hiền hòa, ôn nhu từ điệu chảy lững lờ của dòng sông Tiền. Tôi mang trong mình hơi ấm của mẹ, cái nồng nàn của vị phù sa con sông quê tôi. Tuổi thơ tôi cứ thế lặng lẽ êm đềm trôi như dòng nước lửng lơ con sông Tiền, con sông chảy vào lòng, thấm vào tim mãi khắc sâu. Những gì thuộc về tuổi thơ bên dòng sông Tiền là những mảng ký ức đẹp theo tôi suốt cuộc đời.

Sông Tiền là nhánh hạ lưu phía tả ngạn sông Mê Công, chảy từ đất Campuchia vào đồng bằng miền Nam Việt Nam qua các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Tiền Giang, Vĩnh Long, Trà Vinh, Bến Tre rồi đổ ra Biển Đông. Do sự biến động của dòng chảy và sự tác động của thủy triều mặn thâm nhập sâu vào trong đất liền, trên dòng sông xuất hiện nhiều cồn bãi nổi và ngầm.

cac-loai-hoa-mua-thu-diem-sac-cho-viet-nam-9

Con sông Tiền hiền hòa chảy qua địa phận Tiền Giang – quê hương tôi. Giữa vùng đồng bằng sông Cửu Long rộng lớn, dòng sông lững lờ trôi như một điệu waltz chậm. Nó ôm ấp bao bãi bờ thôn xóm, uốn quanh uyển chuyển qua bao lũy tre làng soi bóng. Con sông lớn lên với bao thế hệ người dân quê tôi, nó chứa đựng bao hoài niệm của miền ký ức xưa. Dòng nước phẳng lặng dịu êm chuyên chở, đưa đẩy những ước mơ, khát vọng của lũ trẻ thôn xóm đến với miền đất mới, nơi ngập tràn những hi vọng tốt đẹp sau này. Và giờ đây, khi đã khôn lớn, tôi gọi con sông là “chiếc bình ước nguyện”. Bởi lẽ, dòng nước ngọt dịu ấy đã đưa ước mơ của tôi đến với ánh sáng thành công.

Những mùa nước ròng, con sông hiền hòa êm dịu như một dải lụa đào, nước sông lựng màu phù sa. Trẻ nhỏ nô đùa, tắm sông, thả diều, đá bóng đôi bên bờ. Cánh đồng lúa trổ đòng đòng mênh mông, bát ngát trải dài tít tắp. Khung cảnh nhẹ nhàng, bình yên như một bức tranh phong cảnh nên thơ. Mùa nước nổi, tứ bề nước dâng. Con sông hiền hòa ấy không còn, mà thay vào đó là dòng sông cuồn cuộn. Nhưng nước nổi có cái thú của nước nổi. Mùa nước lên, điên điển trổ bông. Điên điển – một thức quà của miền Tây, một thức quà chỉ có riêng trong mùa lũ. Những bông điên điển thơm thơm, làm hài lòng từ hương vị cho đến mùi vị. Sớm sớm chèo thuyền giăng lưới bắt ca, hái bông điên điển, thế là đã có một bữa cơm thịnh soạn cho mùa lũ. Đêm đêm, trăng vẫn soi sáng thôn trang, vẫn nghe âm vang đâu đó tiếng hò khuya, vẫn nghe thấy tiếng mái chèo đẩy nước. Dù là con nước ròng hay mùa nước nổi, người dân vẫn sinh sống, vẫn hòa hợp, vẫn có thể cùng dòng sông chung sống hòa thuận suốt bao đời.

hoa-dien-dien-hotel24h-net

Nếu có dịp, các bạn hãy đến với quê tôi để tận mắt ngắm nhìn cái vẻ đẹp thanh thoát, mềm mại của dải sông Tiền. Con sông đẹp, một vẻ đẹp rất khác, cái đẹp chạm đến cảm xúc, tinh tế nhuốm màu của hoài cổ hoang sơ. Mặt trời đội ngày nhô màu mới, ánh nắng tinh khôi xuyên qua kẽ lá đánh tan cái sương đêm mỏng manh, con sông choàng tỉnh sau một giấc ngủ đêm hòa mình vào cái nhộn nhịp cuộc sống lao động của người dân. Cảnh buôn bán, cuộc sống sinh hoạt đời thường của người dân diễn ra tấp nập, sôi nổi trên dòng sông Tiền. Dòng nước cứ lả lướt, thướt tha như một tấm thảm thiên nhiên chảy xiết đến chân trời.

Con sông hiền hòa, con sông yên ả cứ thế nó chảy dềnh dàng qua thôn xóm quê tôi từ ngần ấy. Sông quê tôi không mang màu tinh khiết của bầu trời trong xanh, cũng chẳng phải là màu của những đám mây đang trôi lơ lững trên vòm trời, mà chỉ có một màu xám của phù sa quanh năm bồi đắp màu mỡ cho đôi bờ. Dòng nước như dòng sữa mẹ ngọt ngào nuôi nấng bao con người quê tôi. Đã bao mùa lúa chín vàng, bao mùa cá đầy vơi mà con sông đã mang đến nguồn lợi vô tận. Mẹ cho ta hơi thở, con sông cho ta sự sống, mãi mãi là người mẹ thiên nhiên hiền dịu ôm ấp đàn con vào lòng.

Sông quê hương lắng nghe từng thay đổi của cuộc đời, dịu dàng và thân thuộc. Mỗi khi chiều về, lòng sông ánh lên những tia nắng ấm áp ôm ấp tiếng cười vui khúc khích của tuổi thơ vang vang theo gió lộng. Dòng sông mênh mông mang bao kỷ niệm tuổi thơ với những chiều ngồi trên bãi cỏ bên triền sông. Bên dòng sông quê hương, tôi lắng nghe những ủi an, vỗ về của sóng và gió, của những miên man trìu mến tựa như đôi bàn tay ấm áp đặt vào đôi gò má quá đổi dịu dàng. Tôi cảm thấy lòng mình thật nhẹ nhàng và con tim chợt thổn thức trong tiếng gọi êm đềm của một tuổi thơ bên con sông quê nhà.

                                               “Quê hương tôi có con sông xanh biếc

                                                Nước gương trong soi tóc những hàng tre

                                                Tâm hồn tôi là một buổi trưa hè

                                                Tỏa nắng xuống dòng sông lấp loáng…”

(Nhớ con sông quê hương – Tế Hanh)

Dường như con sông Tiền mang trong mình một câu hát thiết tha và sông đang hát, hát lên khúc hát tình yêu quê hương, khơi dậy bao nỗi niềm đang chôn dấu sâu kín trong trái tim tôi để mang chúng đi thật xa, làm cho lòng tôi lắng lại. Con sông bước ra từ câu thơ, đẹp như một bức tranh thủy mặc, êm đềm như lời mẹ ru. Dòng sông huyền thoại dành tặng cho những người con xa quê hồi tưởng lại ký ức tươi đẹp về dòng sông quê hương, cho những người Việt Nam chưa có dịp chiêm ngưỡng vẻ đẹp của dòng sông Tiền để chúng ta thêm hiểu và thêm yêu vùng đất Tiền Giang một nắng hai sương.

tam-dong-2

Ôi dòng sông! Dòng sông của quê hương, của đất nước, dòng sông đẹp dịu dàng khi những ngày nắng dịu, sông trắng xóa những đợt mưa rào mùa hạ, sông đục ngầu, ầm ầm chảy xiết khi nước lũ tràn về. Gió mát, trăng sáng, dòng nước mênh mông – con sông Tiền quê hương tôi là thế đấy.

 

Hình ảnh người lái đò trên dòng Đà Giang

1228119661

Trong tùy bút “Người lái đò sông Đà”, Nguyễn Tuân đã miêu tả thiên nhiên rất độc đáo, nhưng có lẽ thiên nhiên ấy chỉ làm nền cho hình ảnh con người mà thôi. Thiên nhiên càng hùng vĩ bao nhiêu, dữ tợn bao nhiêu thì con người trong thiên nhiên đó càng kiên cường, anh dũng và tài hoa, thơ mộng bấy nhiêu. Chẳng phải tình cờ khi nói về màu sắc núi sông, Nguyễn Tuân chỉ dùng một chữ “vàng” để rồi sau đó, ông dùng chữ “vàng mười” để gọi tên vẻ đẹp và giá trị quý báu của con người lao động. Điều đó chứng tỏ trong cảm xúc thẩm mĩ của tác giả, người lái đò sông Đà, con người lao động đẹp hơn tất cả và quý giá hơn tất cả. Nguyễn Tuân đã xây dựng hình tượng người lái đò đậm chất nghệ sĩ ngay trong những con người bình thường.

Người lái đò sông Đà – con người được ví với khối vàng mười quý báu – lại chỉ là những ông lái đò nghèo khổ, những người trên hình hài còn in hằn những dấu vết khắc nghiệt của công việc chèo thuyền quá đỗi gian nan, cực nhọc và nguy hiểm. Tất cả những người lái đò trong thiên tùy bút đều làm lụng aam thầm, giản dị, tuyệt đối vô danh nhưng những con người vô danh đó nhờ lao động, đấu tranh chinh phục thiên nhiên mà họ trở nên lớn lao, kì vĩ. Trong sự đối mặt với thiên nhiên nghiệt ngã, họ hiện lên như đại diện của con người. Có lẽ đó chính là nguồn cảm hứng đã thôi thúc Nguyễn Tuân viết tung ra  đạo binh hùng hậu của ngôn từ để miêu tả cho thật hùng tráng và hấp dẫn cuộc thủy chiến của ông lái đò với dòng sông khi đưa thuyền vượt thác.

Cuộc chiến giữa người lái đò với con sông Đà là một cuộc chiến không cân sức. Bởi đó là trận đấu mà một bên là thiên nhiên hùng vĩ, lớn lao, dữ dội và hiểm độc với sức mạnh được nâng lên hàng thần, thánh với sự phối hợp của nhiều thế lực: sóng, nước, đá, gió; có thạch trận với đủ ba lớp trùng vi vây bủa được trấn giữ bởi những hòn đá ngỗ ngược và nham hiểm. Còn bên kia lại là con người nhỏ bé, không hề có phép mù, vũ khí trên tay chỉ là chiếc cán chèo – những chiếc que thật mỏng manh trước nguy nga sóng thác – trên một con đò đơn độc không chỗ lùi. Quy luật của thác nước sông Đà là một quy luật hết sức khắc nghiệt. Một chút thiếu chính xác, một tích tắc thiếu bình tĩnh, lóa mắt, lỡ tay là phải trả giá bằng sinh mệnh của mình.

Dưới ngòi bút của Nguyễn Tuân, ông lái đò được miêu tả như người lao động tài ba, trí dũng, xứng đáng được coi là một nghệ sĩ trong nghệ thuật lái đò vượt thác. Tri thức võ thuật, quân sự, binh pháp một lần nữa được Nguyễn Tuân sử dụng triệt để và sáng tạo để mô tả trận chiến giữa thác sông Đà và ông lái đò.

Trong cuộc chiến thứ nhất, bầy thủy quái “sông Đà đã dàn trận địa”, “đòi ăn chết cái thuyền” – một cái thuyền đơn độc không còn biết lùi đi đâu để tránh một cuộc giáp lá cà. Sóng thác như thể quân liều mạng đánh đòn âm, đánh đòn tỉa, hết “đá trái” rồi lại “thúc gối vào bụng, vào hông thuyền”. Các viên tướng đá, lính đá đứa thì nhe nanh hù dọa, đứa thì ẩn nấp mai phục, đứa thì hiền lành nhưng thực tâm là cố nhử con đò vào trận đồ bát quái rồi mới nhỏm dậy mà vồ lấy nuốt chửng con đò mong manh. Người lái đò chỉ có cán chèo, quá nhỏ bé, yếu ớt, mong manh trước cơn cuồng nộ của đá thác sông Đà. Người lái đò của Nguyễn Tuân chỉ là một con người lao động bình thường chứ không hề có phép màu nào để có thể chống lại sức mạnh thần thánh của “Sơn Tinh hợp với Thủy Tinh”. Trong cuộc chiến sinh tử này, ông đò đã bị thương, “mặt méo bệt đi”, cố nén vết thương, hai chân vẫn kẹp chặt lấy cuống lái, chỉ huy “cái thuyền sáu bơi chèo” vượt thác. Trùng vi thạch trận thứ nhất của sông Đà hung bạo vẫn không thể cản được con đò nhỏ bé bởi tài nghệ điêu luyện, ý chí quyết tâm, kinh nghiệm dày dặn của người lái đò.

Cuộc chiến thứ hai với sóng thác sông Đà mang tính ác liệt hơn, nguy hiểm hơn với hình ảnh “dòng thác sông Đà” hùm beo hồng hộc tế mạnh, cửa tử lại nhiều hơn mà cửa sinh lại bố trí ở bờ hữu ngạn. Bằng sự dũng cảm và ý chí quyết tâm, bình tĩnh chủ động tài nghệ điêu luyện, kinh nghiệm dài dặn, ông đò đã vượt thác nhưu một dũng tướng tài ba. Người xưa thường nói: “cưỡi con gió mạnh, đạp ngọn sóng dữ, chém cá kình ở biển Đông…” là biểu tượng của hành động anh hùng. Người lái đò cũng là một anh hùng trong chiến đấu với thác dữ. Ông nắm chắc binh pháp thần sông, thần đá. Ông đã thuộc quy luật phục kích của lũ đá nơi ải nước hiểm trở này. Hình ảnh người lái đò vượt thác dữ, đá ngầm trong thiên tuỳ bút được miêu tả giống như một dũng tướng với trí dũng tuyệt vời và phong phú ung dung “tài hoa” nắm chặt được cái bờm sóng, mà phóng nhanh vào cửa sinh.

Hình ảnh người lái đò vượt sông Đà lần thứ ba – con sông chẳng khác gì như một thế giới tử thần “ít cửa hơn, bên phải, bên trái đều là luồng chết cả” được nhà văn Nguyễn Tuân miêu tả rất đặc sắc. Người lái đò vượt thác như một người nghệ sĩ “Vút, vút cửa ngoài cửa trong lại cửa trong cùng, thuyền như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước, vừa xuyên vừa tự động lái được, lượm được”. Nguyễn Tuân chú ý tạo tình huống đầy thử thách để nhân vật bộc lộ phẩm chất của mình. Càng nhấn mạnh thách thức ghê gớm của thạch trận sông Đà, tác giả càng khắc hoạ sinh động sự từng trải, gan dạ của ông lái đò. Dĩ nhiên để có thể miêu tả được trận thuỷ chiến, nhà văn cũng đã huy động vốn hiểu biết khá uyên bác của mình về nhiều lĩnh vực đặc biệt: binh pháp, quân sự, võ thuật, thể thao, ngôn ngữ miêu tả đầy cá tính, giàu chất tạo hình, sử dụng nhiều nhân hoá, so sánh độc đáo.

thung-nai-vinh-ha-long-o-tren-cao-16.jpg

Kì lạ thay vừa phải gồng mình vượt qua bao con thác, bao trận địa đá hiểm nguy thế mà ngừng chèo “nhà đò đốt lửa trong hang đá, nướng ống cơm lam và toàn bàn về cá anh vũ, cá dầm xanh…” hình như cái gian nan kia đối với họ đã trở thành cái thường nhật rồi, chẳng có gì đáng quan tâm cả. Từ cuộc chiến ác liệt với thác dữ sông Đà, từ sự bình dị của người lái đò sau chiến thắng, Nguyễn Tuân muốn phát triển một quan niệm: người anh hùng không chỉ có trong chiến đấu mà còn có cả trong cuộc sống lao động hằng ngày. Có thể nói Nguyễn Tuân đã khẳng định và ca ngợi vẻ đẹp của người lao động bình thường, âm thầm, giản dị nhưng đầy trí tuệ đầy sức mạnh, đầy ý chí, nghị lực tài năng và taì hoa đã và đang làm nên những kì tích lớn lao trong cuộc chiến với thiên nhiên hung dữ – đó là “chất vàng mười” của con người Việt Nam trong thời kì mới.

Với sự so sánh, liên tưởng tưởng tượng độc đáo, bất ngờ, thú vị từ ngữ phong phú sống động giàu hình ảnh và có sức gợi cảm cao. Câu văn đa dạng, nhiều tầng, giàu nhịp điệu, lúc hối hả, gân guốc khi thì chậm rãi, trữ tình… Nhà văn đã giới thiệu, khẳng đinh và ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên và con người ở miền Tây Bắc tổ quốc và đồng thời cũng thể hiện tình yêu mến, sự gắn bó thiết tha của Nguyễn Tuân đối với đất nước và con người Việt Nam.

Sông Đà – vẻ đẹp hung bạo và trữ tình

Bàn về tính độc đáo của phong cách trong sáng tác văn học, đã có ý kiến cho rằng: “Nghệ thuật là lĩnh vực của cái độc đáo, vì vậy nó đòi hỏi người sáng tác phải có phong cách nổi bật, nghĩa là có nét gì đó rất riêng, mới lạ thể hiện trong các tác phẩm của mình.”. Đọc ý kiến này, có lẽ nhiều người sẽ liên tưởng ngay đến Nguyễn Tuân với phong cách độc đáo rất riêng, một phong cách nghệ thuật hết sức tài hoa. Và phong cách nhà văn Nguyễn Tuân xây dựng hình tượng dòng Đà Giang trong tác phẩm tùy bút “Người lái đò sông Đà” là một ví dụ điển hình.

imnages

Nguyễn Tuân là bậc thầy về ngôn ngữ trong nền văn học hiện đại Việt Nam. Những tác phẩm của ông viết bằng cái “ngông” của người nghệ sĩ và bằng tình yêu tha thiết. “Người lái đò sông Đà” là bài tùy bút lấy cảm hứng từ chuyến đi thực tế. Hình ảnh con sông Đà được nhìn qua lăng kính tâm hồn nghệ sỹ với nhiều vẻ đẹp khác nhau mang lại ấn tượng độc đáo đối với người đọc. Nguyễn Tuân đã rất thành công khi xây dựng hình tượng sông Đà bằng chất liệu ngôn ngữ và tình cảm phong phú. Dưới ngòi bút của Nguyễn Tuân, sông Đà hiện lên hai tính cách trái ngược nhau: hung bạo và trữ tình.

Qua cái nhìn của Nguyễn Tuân, sông Đà “lắm bệnh lắm chứng, chốc dịu dàng đấy, rồi chốc lại bẳn tính và gắt gỏng thác lũ ngay đấy”. Có thể nói phải thật tinh tế và khéo léo mới có thể nhận ra sự chuyển đổi của sông Đà như vậy.

Nguyễn Tuân trong thiên tùy bút của mình, quả có đề cập nhiều đến sự “hung bạo” của dòng sông Đà đầy đá nổi, đá chìm và những thác dữ. Nhưng nhà văn vẫn làm cho chúng ta nhận thấy, bên cạnh và cả bên trong sự hung bạo ấy, hình ảnh con sông vẫn nổi bật lên như một biểu tượng về sức mạnh dữ dội và vẻ đẹp hùng vĩ của thiên nhiên. Sông Đà hiện lên là dòng sông hung bạo, lắm thác ghềnh, ngỗ ngược, không chảy theo khuôn khổ. Vẻ đẹp hiểm trở, nguy hiểm của sông Đà được tác giả viết “đá bờ sông dựng vách thành, mặt sông chỗ ấy chỉ lúc đúng giờ ngọ mới có mặt trời. Có vách đá thành chẹt lòng sông Đà như một cái yết hầu. Đứng bên này bờ nhẹ tay ném hòn đá qua bên kia vách. Có quãng con nai con hổ đã có lần vọt từ bờ này sang bờ kia”. Chỉ với vài chi tiết phác họa con sông Đà hiện lên với nhiều phức tạp, khó khăn, nguy hiểm khôn lường. Hình ảnh “mặt sông chỗ ấy chỉ lúc đúng giờ ngọ mới có mặt trời” mà Nguyễn Tuân đề cập giúp người đọc hình dung được độ cao của vách đá hai bên bờ sông, vừa diễn tả được cái lạnh lẽo, âm u, tăm tối của những khúc sông có “đá bờ sông dựng vách thành”. Thì ra, đá ở hai bên bờ sông đã chắn hết ánh nắng, không cho nất cứ tia nắng nào rọi xuống mặt sông trừ lúc giữa trưa.

Như chưa thỏa với sự miêu tả trên, Nguyễn Tuân tiếp tục khắc sâu ấn tượng về sự lạnh lẽo, âm u, nhỏ hẹp của những vách đá. Tác giả đã diễn tả cảm xúc khi đi qua đoạn sông này “ngồi trong khoang đò qua quãng ấy, đang mùa hè mà cũng thấy lạnh, cảm thấy mình như đứng ở hè một cái ngõ mà ngóng vọng lên một khung cửa sổ nào trên cái tầng nhà thứ mất vừa vụt tắt điện”. Thật bất ngờ và thú vị khi nhà văn so sánh cảm giác của con người giữa thiên nhiên hoang sơ hùng vĩ với một khoảnh khắc của đời sống hiện đại giữa chốn thị thành. Một lối so sánh độc đáo, đầy táo bạo và cũng không kém phần tinh tế. Sông Đà đẹp, nhưng đẹp vẻ đẹp hùng vĩ, hoang dại và nguy hiểm.

Chưa dừng lại ở đó, trong khung cảnh mênh mông hàng ngàn cây số của một thế giới đầy đá, gió, sóng, Nguyễn Tuân còn khiến người đọc bất ngờ hơn nữa khi miêu tả sự hùng vĩ, hung dữ đó qua hình ảnh “quãng mặt ghềnh Hát Lóong, dài hàng cây số nước xô đá, đá xô sóng, sõng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm như lúc nào cũng đòi nợ xuyết bất cứ người lái đò nào tóm được qua quãng ấy”. Thủ pháp điệp từ, điệp cấu trúc được hỗ trợ bởi các thanh trắc tạo nên âm hưởng dữ dội, dồn dập như vừa xô đẩy, vừa hợp sức của gió, sóng, đá khiến cho cả dòng sông sôi lên cuồn cuộn, chảy dữ dằn. Sông Đà hiện lên như một kẻ bất chấp hết, có thể lấy đi tính mạng của những ai vô tình đi qua đây. Thật táo bạo, mãnh liệt và mạnh mẽ.

Sự hung bạo của Đà Giang còn ở “cái hút nước” chết người. Bất cứ ai cũng có thể hình dung những chỗ nước xoáy, siết. Nhưng những chỗ đó không là gì với “những cái hút nước” mà Nguyễn Tuân đã khắc họa trong tác phẩm. Dưới ngòi bút của tác giả, những cái hút nước sông Đà giống như “cái giếng bê tông thả xuống để chuẩn bị làm móng cầu”, lúc thì “nước ở đây thở và kêu như cái cống cái bị sặc”, khi thì “kêu ặc ặc như vừa rót dầu sôi vào”. Bằng biện pháp so sánh, nhân hóa, kể và tả, nhà văn đã khiến cho những cái hút nước ấy hiện hình với nhiều góc độ khác nhau, đồng thời giúp người đọc cảm nhận được tất cả sự ghê gớm và độc ác của chúng. Những cái hút nước sẵn sàng nhấn chìm và đập tan chiếc thuyền nào lọt vào đây.

Khi Nguyễn Tuân miêu tả tiếng thác réo, người đọc có cảm tưởng như đang đứng trước sông đà hùng vĩ chiêm ngưỡng vẻ đẹp khó cưỡng đó. “Như là oán trách gì, rồi lại như là van xin, rồi lại như là khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo. tiếng thác rống như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa nổ lửa, đang phá tuông rừng lửa, rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng”. Những câu văn với giọng điệu dồn dập, gay cấn, đầy cảm xúc. Một cảnh tưởng hùng vĩ, nguy hiểm vô cùng. Một cách so sánh, tuyệt vời, hiếm thấy trong văn học. Nguyễn Tuân thực sự là bậc thầy của ngôn ngữ, ông thổi hồn vào những con chữ, khiến con chữ như biết nói, biết rung động.

Đặc biệt hơn nữa, sông Đà hình thành ba trận chiến, người lái đò muốn vượt qua dòng chảy này thì phải vượt qua ba trận chiến hiểm trở, táo bạo này. Với giọng văn dồn dập, tác giả kéo người đọc vào cùng vượt thác với người lái đò. Trận thứ nhất “mặt nước hò la vang dậy quanh mình, ùa vào mà bẻ gãy cán chèo. Sóng nước như thể quân liều mạng vào sát nách…”. Sang đến trận thứ hai “tăng thêm nhiều của tử để đánh lừa con thuyền vào, và cửa sinh lại bố trí lệch qua bên phía bờ hữu ngạn”. Sang đến trận thứ ba dường như ít cửa hơn nhưng lại quyết liệt và mãnh liệt hơn. Sông Đà hiện lên không khác nào một con thủy quái đang đòi nuốt chửng người lái đò và chiếc thuyền bất cứ lúc nào có thể. Con sông chính là “kẻ thù số một” của người lái đò, với tất cả đặc tính nham hiểm, thâm độc nhất.

6-du-lich-muong-lay-song-da-mytour-1

Tuy nhiên bên cạnh vẻ đẹp hùng vĩ, hiểm trở, nguy hiểm, sông Đà còn hiện lên thật nên thơ và trữ tình biết bao nhiêu. Nhưng chớ lầm tưởng rằng hai tính chất trữ tình và hung bạo luôn tồn tại ở cùng một quãng sông. Dòng Đà Giang chỉ thực sự trữ tình khi chạy qua những bãi bờ, để lại những thác đá xa xôi ở nơi thượng nguồn Tây Bắc. Những đoạn văn viết về vẻ trữ tình của sông Đà cũng là kết quả của những công phu tìm tòi khó nhọc của một người nhất quyết không bao giờ chịu bằng lòng với những tri thức hời hợt hoặc đã quá quen nhàm.

Qua ngòi bút tinh tế của Nguyễn Tuân, từ trên cao nhìn xuống, “sông Đà tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói mèo đốt nương xuân”. Hình ảnh ấy gợi cho ta nhớ đến câu Đường thi trong bài thơ Hoàng Hạc Lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng” của Lý Bạch “Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu” (Xuôi về Dương Châu giữa tháng ba mùa hoa khói). Với trí tưởng tượng tuyệt vời cùng lối so sánh, ẩn dụ, sông Đà hiện lên như người thiếu nữ Tây Bắc với vẻ đẹp trữ tình, trẻ trung, duyên dáng, quyến rũ, kiêu sa. Thật tài hoa và thật trữ tĩnh, một hình ảnh tuyệt đẹp hiện lên giữa rừng núi hiểm trở Tây Bắc.

Để chắc rằng dòng nước Đà Giang không hề đen như thực dân Pháp gọi bằng cái tên lếu láo “sông Đà đen”, nhà văn đã ngắm nhìn dòng sông từ nhiều thời gian, không gian khác nhau. Nguyễn Tuân đã phát hiện những màu sắc tươi đẹp và đa dạng của dòng sông. Sông đà biến đổi theo mùa, mỗi mùa có một vẻ đẹp riêng. Vào mùa xuân dòng xanh ngọc bích, chứ nước sông Đà không xanh màu canh hến của sông Gâm, sông Lô”. Còn vào “mùa thu nước sông Đà lừ lừ chín đỏ như da mặt một người bầm đi vì ruơu, lừ lừ cái màu đỏ giận dữ ở một người bất mãn bực bội gì mỗi độ thu về”. Bằng sự khẳng định này, tác giả không chỉ tôn vinh vẻ đẹp của dòng sông mà còn trực tiếp bày tỏ tình yêu mến đối với sông Đà, niềm tự hào về vẻ đẹp của con sông xứ sở. Những từ ngữ mượt mà, tươi đẹp đã làm nên vẻ đẹp hiếm có của một dòng sông tưởng chừng chỉ có giận dỗi và hung dữ.

Sông Đà có những lúc buồn mênh mang và hoang sơ đến lạ kỳ. Dòng sông có một vẻ đẹp tĩnh lặng, yên ả, thanh bình nhưng còn đó những dấu tích của lịch sử cha ông. Và sông Đà cũng còn đó những vẻ đẹp cổ kính phảng phất nỗi niềm cổ tích. “Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử. Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa”. Thật là một vẻ đẹp nhẹ nhàng, chân chất và tươi mới biết bao nhiêu. Hai bên bờ sông Đà tràn ngập cảnh sắc tươi vui của một cuộc sống mới đang bắt đầu, “một nương ngô nhú lên những lá ngô non đầu mùa”, “cỏ gianh đồi núi đang ra những nõn búp”. Qua đôi mắt người lái đò, hay là đôi mắt của tác giả sông Đà tạo nên những dòng cảm xúc thật lạ kì, thần tiên và mộng mơ quá đỗi. Có lẽ khi yêu mảnh đất này, cảm nhận nó ở mọi khía cạnh đều toát lên vẻ đẹp không phải nơi nào cũng có được. Và sông Đà cũng vậy, một vẻ đẹp khiến người đọc phải ngỡ ngàng.

Dưới ngòi bút của tài hoa, uyên bác của Nguyễn Tuân, từ cách nhìn nhiều chiều về con sông, tác giả đã tạo dấu ấn khó quên tròng lòng người đọc về hình tượng con sông Đà sinh động với hai nét tính cách trái ngược: hung bạo và trữ tình. Đó là “chất vàng mười” của thiên nhiên Tây Bắc – một sự hiện diện của cái “đẹp” mà tác giả luôn khao khát kiếm tìm và thể hiện trong các sáng tác của mình.

Nguyễn Tuân và tùy bút Sông Đà

                                                “ Tây Bắc ư, có riêng gì Tây Bắc

                                                Khi lòng ta đã hoá những con tàu

                                                Khi Tổ Quốc bốn bề lên tiếng hát

                                                Tâm hồn ta là Tây Bắc chứ còn đâu.

(Tiếng hát con tàu – Chế Lan Viên)

Trong những ngày tháng cả nước rộn ràng lên đường theo tiếng gọi của “tâm hồn Tây Bắc” để xây dựng lại một miền quê của Tổ Quốc, có biết bao nhà văn, nhà thơ đã thực hiên quá trình lột xác để đến với cách mạng. Một trong những nhà nghệ sĩ yêu nước ấy là Nguyễn Tuân, người đã mang lại những tờ hoa thơm thảo cho đời. Nguyễn Tuân đến với Tây Bắc qua tuỳ bút “Sông Đà”. “Người lái đò sông Đà” được trích trong tập “Sông Đà” là một tác phẩm tuỳ bút đặc sắc in đậm hình ảnh con người lao động nghệ sĩ và hình ảnh thiên nhiên Tây Bắc vừa hung bạo,vừa trữ tình.

tai-xuong-1

Nguyễn Tuân là một nhà văn nổi tiếng của Việt Nam, sở trường về tuỳ bút và kí. Nguyễn Tuân sinh ngày 10 tháng 7 năm 1910 ở phố Hàng Bạc, Hà Nội, quê ở thông Thượng Đình, xã Nhân Mục (tên Nôm là làng Mọc), nay thuộc phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội. Ông trưởng thành trong một gia đình nhà Nho khi Hán học đã tàn.

Nguyễn Tuân học đến cuối bậc Thành chung Nam Định (tương đương với cấp Trung học cơ sở hiện nay, tiền thân của trường THPT Chuyên Lê Hồng Phong, Nam Định ngày nay) thì bị đuổi vì tham gia một cuộc bãi khoá phản đối mấy giáo viên Pháp nói xấu người Việt (1929). Sau đó ít lâu ông lại bị tù vì đi qua biên giới tới Thái Lan không có giấy phép. Ở tù ra, ông bắt đầu viết báo, viết văn. Nguyễn Tuân cầm bút từ khoảng đầu những năm 1935, nhưng nổi tiếng từ năm 1938 với các tác phẩm tuỳ bút, bút kí có phong cách độc đáo như “Vang bóng một thời”, “Một chuyến đi”...Năm 1941, Nguyễn Tuân bị bắt giam một lần nữa và gặp gỡ, tiếp xúc với những người hoạt động chính trị.

Năm 1945, Cách mạng tháng Tám thành công, Nguyễn Tuân nhiệt tình tham gia cách mạng và kháng chiến, trở thành một cây bút tiêu biểu của nền văn học mới. Từ 1948 đến 1957, ông giữ chức Tổng thư kí Hội Văn nghệ Việt Nam.

Các tác phẩm chính sau cách mạng của Nguyễn Tuân là tập tùy bút Sông Đà (1960) là kết quả chuyến đi thực tế vùng Tây Bắc, một số tập ký chống Mỹ (1965 -1975) và nhiều bài tùy bút về cảnh sắc và hương vị đất nước. Ông chủ trương chủ nghĩa xê dịch, không thích cuộc sống trầm lặng, bình ổn nên ông đi suốt chiều dài đất nước để tìm những điều mới mẻ,độc đáo.

Nguyễn Tuân mất tại Hà Nội vào năm 1987. Năm 1996 ông được nhà nước Việt Nam truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.

Nguyễn Tuân yêu Việt Nam với những giá trị văn hóa cổ truyền của dân tộc. Ông yêu tha thiết Tiếng Việt, những kiệt tác văn chương của Nguyễn Du, Đoàn Thị Điểm, Tú Xương, Tản Đà,…, những nhạc điệu hoặc đài của các lối hát ca trù hoặc dân dã mà thiết tha, nh­ững nét đẹp rất riêng của Việt Nam. Ở Nguyễn Tuân, ý thức cá nhân phát triển rất cao. Ông viết văn trước hết để khẳng định cá tính độc đáo của mình, tự gán cho mình một chứng bệnh gọi là “Chủ nghĩa xê dịch”. Lối sống tự do phóng túng của ông không phù hợp với chế độ thuộc địa (hai lần bị tù). Nguyễn Tuân là con người rất mực tài hoa. Tuy chỉ viết văn nhưng ông còn am hiểu nhiều môn nghệ thuật khác: hội hoạ, điêu khắc, sân khấu, điện ảnh… Ông còn là một diễn viên kịch nói và là một diễn viên điện ảnh đầu tiên ở Việt Nam. Ông thường vận dụng con mắt của nhiều ngành nghệ thuật khác nhau để tăng cường khả năng quan sát, diễn tả của nghệ thuật văn chương. Nguyễn Tuân nổi tiếng là người sành ăn. Với ông, Ăn là một nghệ thuật, một giá trị thẩm mỹ, một sự khám phá cái ngon mà tạo hóa đã ban cho. Nguyễn Tuân là một nhà văn biết quý trọng thật sự nghề nghiệp của mình. Đối với ông, nghệ thuật là một hình thái lao động nghiêm túc, thậm chí “khổ hạnh” và ông đã lấy chính cuộc đời cầm bút hơn nửa thế kỷ của mình để chứng minh cho quan niệm ấy.

Sự nghiệp văn chương của Nguyễn Tuân không phải là nhà văn thành công ngay từ những tác phẩm đầu tay. Ông đã thử bút qua nhiều thể loại: thơ, bút kí, truyện ngắn, hiện thực trào phúng. Nhưng mãi đến đầu năm 1938, ông mới nhận ra sở trường của mình và thành công xuất sắc với các tác phẩm: Một chuyến điVang bóng một thờiThiếu quê hươngChiếc lư đồng mắt cua…Tác phẩm Nguyễn Tuân trước Cách mạng tháng Tám chủ yếu xoay quanh ba đề tài: “chủ nghĩa xê dịch”, vẻ đẹp “vang bóng một thời”,“đời sống truỵ lạc”. Nguyễn Tuân đã tìm đến lí thuyết “chủ nghĩa xê dịch” này trong tâm trạng bất mãn và bất lực trước thời cuộc. Nhưng viết về “chủ nghĩa xê dịch”, Nguyễn Tuân lại có dịp bày tỏ tấm lòng gắn bó tha thiết của ông đối với cảnh sắc và phong vị của đất nước mà ông đã ghi lại được bằng một ngòi bút đầy trìu mến, yêu thương và tài hoa (Một chuyến đi). Không tin tưởng ở hiện tại và tương lai, Nguyễn Tuân đi tìm vẻ đẹp của quá khứ còn “vang bóng một thời”. Ông mô tả vẻ đẹp riêng của thời xưa với những phong tục đẹp, những thú tiêu dao hưởng lạc lành mạnh và tao nhã. Tất cả được thể hiện thông qua những con người thuộc lớp người nhà Nho tài hoa bất đắc chí, tuy đã thua cuộc nhưng không chịu làm lành với xã hội thực dân (như Huấn Cao trong tác phẩm Chữ người tử tù). Nguyễn Tuân cũng hay viết về đề tài đời sống trụy lạc. Ở những tác phẩm này, người ta thường thấy có một nhân vật“tôi” hoang mang bế tắc. Trong tình trạng khủng hoảng tinh thần ấy, người ta thấy đôi khi vút lên từ cuộc đời nhem nhuốc, phàm tục niềm khao khát một thế giới tinh khiết, thanh cao (Chiếc lư đồng mắt cua). Từ sau Cách mạng tháng Tám 1945, ông chân thành đem ngòi bút phục vụ cuộc chiến đấu của dân tộc, nhưng Nguyễn Tuân luôn luôn có ý thức phục vụ trên cương vị của một nhà văn, đồng thời vẫn muốn phát huy cá tính và phong cách độc đáo của mình. Ông đã đóng góp cho nền văn học mới nhiều trang viết sắc sảo và đầy nghệ thuật ca ngợi quê hương đất nước, ca ngợi nhân dân lao động trong chiến đấu và sản xuất.

Nguyễn Tuân có một phong cách nghệ thuật rất độc đáo và sâu sắc. Trước Cách mạng tháng Tám, phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân có thể thâu tóm trong một chữ “ngông”. Thể hiện phong cách này, mỗi trang viết của Nguyễn Tuân đều muốn chứng tỏ tài hoa uyên bác. Và mọi sự vật được miêu tả dù chỉ là cái ăn cái uống, cũng được quan sát chủ yếu ở phương diện văn hóa, mĩ thuật. Trước Cách mạng tháng Tám, ông đi tìm cái đẹp của thời xưa còn vương sót lại và ông gọi là Vang bóng một thời. Sau Cách mạng, ông không đối lập giữa quá khứ, hiện tại và tương lai. Văn Nguyễn Tuân thì bao giờ cũng vậy, vừa đĩnh đạc cổ kính, vừa trẻ trung hiện đại. Nguyễn Tuân học theo “chủ nghĩa xê dịch”. Vì thế ông là nhà văn của những tính cách phi thường, của những tình cảm, cảm giác mãnh liệt, của những phong cảnh tuyệt mĩ, của gió, bão, núi cao, rừng thiêng, thác ghềnh dữ dội… Nguyễn Tuân cũng là một con người yêu thiên nhiên tha thiết. Ông có nhiều phát hiện hết sức tinh tế và độc đáo về núi sông cây cỏ trên đất nước mình. Phong cách tự do phóng túng và ý thức sâu sắc về cái tôi cá nhân đã khiến Nguyễn Tuân tìm đến thể tùy bút như một điều tất yếu.

Tác phẩm của Nguyễn Tuân luôn thể hiện phong cách độc đáo, tài hoa, sự hiểu biết phong phú nhiều mặt, và vốn ngôn ngữ, giàu có, điêu luyện. Ông viết văn với một phong cách tài hoa uyên bác và được xem là bậc thầy trong việc sáng tạo và sử dụng Tiếng Việt. Nguyễn Tuân còn có đóng góp không nhỏ cho sự phát triển của ngôn ngữ văn học Việt Nam. Sau Cách mạng tháng Tám, phong cách Nguyễn Tuân có những thay đổi quan trọng. Ông vẫn tiếp cận thế giới, con người thiên về phương diện văn hóa nghệ thuật, nghệ sĩ, nhưng giờ đây ông còn tìm thấy chất tài hoa nghệ sĩ ở cả nhân dân đại chúng. Còn giọng khinh bạc thì chủ yếu chỉ là để ném vào kẻ thù của dân tộc hay những mặt tiêu cực của xã hội.

Có ý kiến cho rằng, Nguyễn Tuân là một cái định nghĩa về người sĩ. Đối với ông, văn chương trước hết phải là văn chương, nghệ thuật trước hết phải là nghệ thuật, và đã là nghệ thuật thì phải có phong cách độc đáo. Nhưng Nguyễn Tuân, xét từ bản chất, không phải là người theo chủ nghĩa hình thức. Tài phải đi đôi với tâm. Ấy là “thiên lương” trong sạch, là lòng yêu nước thiết tha, là nhân cách cứng cỏi trước uy quyền phi nghĩa và đồng tiền phàm tục.

Người đọc mến Nguyễn Tuân về tài, nhưng còn trọng ông về nhân cách ấy nữa. Văn Nguyễn Tuân, tuy thế, không phải ai cũng ưa thích. Vả lại một số bài viết của ông cũng có nhược điểm: mạch văn quá phóng túng theo lối tùy hứng, khó theo dõi; nhiều đoạn tham phô bày kiến thức và tư liệu khiến người đọc cảm thấy nặng nề…

111013115451-733-42

Tác phẩm “Người lái đò sông Đà” là một bút kí đặc sắc, kết quả của chuyến thâm nhập thực tế vùng sông Đà 1958 – 1960 của nhà văn, in trong bút kí “Sông Đà” xuất bản năm 1960. “Sông Đà” gồm 15 bài tùy bút và một bài thơ phác thảo. Tác phẩm cho ta thấy sự giàu có về tài nguyên và phong cảnh tuyệt vời của miền Tây Tổ quốc. “Sông Đà” còn tìm đến vẻ đẹp của con người Tây Bắc. Nguyễn Tuân gọi đó là “chất vàng mười” của tâm hồn. Nhà văn ngược dòng lịch sử, dựng lại những tấm gương anh hùng của các chiến sĩ cách mạng ở nhà tù Sơn La, những cán bộ hoạt động hồi Tây Bắc bị giặc chiếm, những bộ đội, dân công trong chiến dịch Điện Biên,… Tác giả lại trở về hiện tại, tìm đến những lớp người đi mở đường kiến thiết Tây Bắc, những gia đình lên Điện Biên lập nghiệp, những cán bộ địa chất đi tìm quặng mỏ, những chiến sĩ biên phòng bảo vệ biên giới phía Tây, những người lái đò dũng cảm và tài ba trên thác dữ sông Đà,…

Cảm hứng gắn bó với mảnh đất và con người Tây Bắc đã in đậm trong hình ảnh người lái đò nghệ sĩ và con sông Đà vừa hùng vĩ, vừa nên thơ, trữ tình. Với “Người lái đò sông Đà”, Nguyễn Tuân đã ghi dấu ấn không trộn lẫn của mình ở thể loại tuỳ bút, bám sát hiện thực, say mê khám phá những nét ấn tượng, những vẻ đẹp tiềm ẩn từ hiện thực. Vốn sống và tài năng của người nghệ sĩ tài hoa này đã gặp được môi trường Tây Bắc với bao nhiêu vẻ đẹp tiềm ẩn trong mảnh đất và con người, từ đó giúp ông có những phát hiện mới mẻ, tô đậm những ấn tượng kì vĩ nên thơ về Tây Bắc trong lòng bạn đọc. Hơn thế nữa, tác phẩm còn đánh dấu sự vững vàng trong tư tưởng tình cảm của nhà văn, sự nhạy cảm tinh tế của một tâm hồn nghệ sĩ yêu đất nước, yêu con người lao động, yêu và tin vào cách mạng, vào con đường dân tộc đang hướng tới.

Nhà văn Nguyễn Tuân đã đem đến cho người đọc một thiên tùy bút xuất sắc và dạt dào cảm xúc. Từ bài tùy bút, người đọc có thể hình dung được vẻ đẹp vừa kì vĩ, hung bạo, vừa trữ tình, nên thơ của dòng sông Đà. Tác giả đã khơi gợi, nhen nhóm trong lòng người đọc tình yêu quê hương, đất nước, trân trọng những con người lao động bình dân nhưng đầy chất nghệ sĩ này.

Những dòng sông – Hành trình từ trang văn đến hiện thực

Việt Nam là nơi non nước hữposteru tình làm say đắm lòng người, nơi hấp thụ tinh hoa đất trời với biết bao thắng cảnh, bao núi sông hùng vĩ tạo nên một nét đẹp tinh tế chạm đến cảm xúc. Ai mà không lớn lên bên lời ru dịu êm của mẹ, hay cái ngọt ngào của hương phù sa nồng mặn của dòng sông quanh co ôm ấp xóm làng – nơi cất giấu một khoảng trời tuổi thơ tươi đẹp. Và cứ thế, con sông quê hương lặng lẽ chảy êm dịu, uyển chuyển uốn mình vào những ca từ bay bổng, mượt mà trong những trang văn, trang thơ của dân tộc. Những dòng sông xanh thẳm tuôn chảy suốt dọc đất nước bước vào văn chương, rồi từ thơ bước ra vẻ đẹp kiều diễm của một dòng sông rất trữ trình.

Với Tế Hanh, con sông gắn liền với kỷ niệm tuổi thơ ngây ngô của lũ trẻ thôn quê:

“Quê hương tôi có con sông xanh biếc
Nước gương trong soi tóc những hàng tre
Tâm hồn tôi là một buổi trưa hè
Tỏa nắng xuống dòng sông lấp loáng…”

(Nhớ con sông quê hương)

Những dòng sông phẳng lặng, chảy lững lờ hiện lên trong tác phẩm của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm, mang đậm cốt cách thanh tao, góp phần làm nên vẻ đẹp kiêu sa cho cảnh đẹp Đất Nước của dân tộc:

“Ôi những dòng sông bắt nước từ đâu  

Mà khi về Đất Nước mình thì bắt lên câu hát…”

(Đất Nước)

“Dòng sông” là khúc hát tâm tình, tha thiết – một khúc ca hải hoàng về một Đất Nước tráng lệ.

Đối với Nguyễn Tuân, ông lặng lẽ ngắm nhìn con sông Đà mang một nét trữ tình trong cốt cách hung bạo, hùng vĩ cuồn cuồn những thác đá gồ ghề. Phải có cái cảm nhận tinh tế, nhạy cảm của một người nghệ sĩ đa tài, dòng sông mới hiện lên với vẻ đẹp đa sắc thái như vậy: “Con sông Đà tuôn dài như một áng tóc trữ trình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban, hoa gạo tháng hai cuồn cuộn mù khói núi mèo đốt nương xuân…”

Từ văn chương con sông bước ra hiện lên đầy chân thực ở cuộc sống thường nhật, nó mang đến nguồn lời vô tận về kinh tế, du lịch mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc Việt. Dòng nước ngọt ngào như sữa mẹ đã trao sự sống cho bao người dân. Cũng từ những giá trị về kinh tế – du lịch, văn hóa – lịch sử và những giá trị tinh thần của những con sông đối với người dân Việt Nam, Talk Show S! Việt Nam với chuyên đề “ Những dòng sông – hành trình từ trang văn đến hiện thực” do Đài truyền hình ABC tổ chức xin được giới thiệu những dòng sông quê hương Việt Nam tới các bạn độc giả.

Có thể ví rằng, con sông là “một cuộc đời” bởi lẽ nó tồn tại như một sinh thể có linh hồn thực sự, “hành trình những dòng sông” là “hành trình số phận”. Con sông chảy vào văn chương một nguồn cảm xúc vô tận, một dư âm vang vọng hiện thân cho vẻ đẹp trường tồn của đất nước. Từ đời thực, con sông bước vào thi phẩm rồi từ đó nó phản chiếu vẻ đẹp ra ngoài đời sống thực tại.

Lắng nghe khúc hát yêu thương ân nghĩa từ những dòng sông hiền hòa của đất nước, cái hơi thở thắm đượm vị phù sa của con sông quê hương tuổi thơ. Chương trình dành tặng cho những người con Việt Nam để chúng ta thêm hiểu và yêu quý đất nước. Đó cũng góp phần làm tôn vinh, ca ngợi vẻ đẹp của những dòng sông quê hương.

Mời các bạn đón xem chương trình Talkshow “S! Việt Nam”, tập “Những dòng sông – Hành trình từ trang văn đến hiện thực”.

toroi